TRANG CHÍNH GIỚI THIỆU VỀ TRƯỜNG   VĂN BẢN    ALBUM   LIÊN HỆ - GÓP Ý THÀNH VIÊN CLB VĂN HỌC     DIỄN ĐÀN  

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 2


Hôm nayHôm nay : 422

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 16656

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 781551

 

 

 

 

 

 

 

 

Trang nhất » Thông tin của trường » THÔNG TIN TỔ CHUYÊN MÔN - CHIA SẼ KINH NGHIỆM

Tích hợp trong giảng dạy Lịch sử và Ngữ văn

Thứ tư - 23/03/2011 07:50
Trong dạy học việc tích hợp kiến thức bộ môn này vào bài học của một bộ môn khác đã và đang được thực hiện theo tinh thần đổi mới giáo dục một cách có hiệu quả.Tổ văn trường THPT Mai Thanh Thế có bài tham luận về vấn đề này trên góc độ môn Ngữ văn và môn Lịch sử.Chúng tôi xin giới thiệu để quý thầy cô cùng tham khảo.

HƯỚNG TÍCH HỢP NHỮNG KIẾN THỨC LIÊN QUAN GIỮA HAI PHÂN MÔN LỊCH SỬ VÀ NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT

                                                                                                                        Th.S TrầnMinh Thương

  1. Thực trạng và mục tiêu

1.1. Trong không khí đổi mới phương pháp giảng dạy ở nhiều bộ môn, với việc lấy học sinh làm trung tâm, học sinh sẽ chủ động hơn trong việc tiếp thu kiến thức. Kiến thức của từng đơn vị bài học vừa đòi hỏi học sinh tiếp cận ở chiều sâu lại phải đặt ra yêu cầu về chiều rộng đối với người học, tức là có sự tích hợp nhiều phân môn, cụ thể là ngành khoa học xã hội gần gũi nhau: Ngữ văn và Lịch sử.

1.2. Nhiều năm nay, cứ sau mỗi lần thi tốt nghiệp THPT nhiều phương tiện thông tin đại chúng, nhiều tờ báo từ trung ương đến địa phương liên tục thay nhau đưa ra những thông tin … buồn!

Học sinh thi môn lịch sử có đến vài trăm em bị điểm 0, điểm 0.5, … Học sinh viết văn thì ngô nghê, rất nhiều ví dụ được đăng tải thể hiện điều này:

Kiều là 1 người con gái tài sắc vẹn toàn, song nàng đã bị chế độ phong kiến vùi vào đống bùn nhơ. Đến nỗi, chịu không nổi, nàng đã nhảy xuống sông Tiền giang tự vẫn. May thay lúc đó có một bà đi công tác về, bà liền nhảy xuống sông cứu nàng. Sau đó, Kiều giác ngộ và đi theo con đường Cách Mạng ...(tư liệu sưu tầm từ thực tế phổ thông)

Ở môn Lịch sử, hiện tượng diễn đạt lung tung cũng không khả quan hơn:

.... Quân địch đánh ra, quân ta đánh vào ào ào như lá tre rụng, đồng chí phe ta đánh thằng cha phe nó ghê hết sức.... Kết quả: Sau 55 ngày đêm chiến đấu oai hùng, ngày 7-1-1991, phe ta thắng phe nó, chúng ta đã giết sống được 16,200 chúng nó, phanh thây 62 máy bay (em quên mất tên máy bay rồi!)(tư liệu sưu tầm từ thực tế phổ thông)

Ngay cả trong các kỳ thi học sinh giỏi Văn, hiện tượng “bất cần” tai hại vẫn xuất hiện:

Đây là ví dụ phần mở đầu trong bài làm của học sinh Nguyễn Phi Thanh, lớp 11A18, trường THPT Việt Đức, Hà Nội, đã từng gây chấn động dư luận, người đồng tình, người phản đối và tốn nhiều giấy mực của báo chí:

Nói đến Nguyễn Đình Chiểu, người ta thường nhớ đến một thầy giáo mù yêu nước, có tài thơ văn nhưng cuộc sống gặp nhiều bất hạnh. Nguyễn Đình Chiểu sáng tác khá nhiều, nổi tiếng là tập thơ Nôm “Lục Vân Tiên”và trong văn học lớp 11, chúng ta được làm quen với tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Bài tế được Nguyễn Đình Chiểu sáng tác để tưởng nhớ những chiến sĩ, những người nông dân đã hy sinh trong phong trào Cần Vương khi thực dân Pháp tấn công Gia Định, Sài Gòn.Tuổi Trẻ – 13.5.2005

Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng có lẽ không thể bỏ qua việc học tập tiếp thu kiến thức của hai phân môn Lịch sử và Ngữ văn đối với các em là vừa yếu, vừa thiếu.

Khó khăn từ khách quan, nằm ngay trong hai bộ sách giáo khoa, chương trình Ngữ văn và chương trình lịch sử chưa có sự đồng thuận về thời gian, ví dụ cụ thể bài Tuyên ngôn độc lập (HCM), chương trình Ngữ văn, học ở tuần 2; bài lịch sử Cao trào kháng Nhật cứu nước và Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945. Nước Việt Nam dân Chủ Cộng Hoà ra đời, học ở bài 19, chương II, phần hai, thời gian sau đó khá xa.

Chương trình lịch sử hiện tại lại có sự phân bố không cân xứng giữa lịch sử văn hoá và lịch sử chiến tranh. Các bài viết về chiến công và các trận đánh chiếm tỷ lệ lớn hơn.

Qua thăm dò từ thực tế ở địa phương chúng tôi nhận thấy giáo viên bậc trung học phổ thông ở hai chuyên ngành này có gợi, có hướng cho học sinh những kiến thức liên quan, song nó chưa thường xuyên và cũng chưa thực sự có chiều sâu

Vậy làm sao cho học sinh học lịch sử (cụ thể là lịch sử Việt Nam) đỡ nhàm chán, linh hoạt, khắc sâu được kiến thức. Ngược lại, khi những học sinh này học môn Ngữ văn thì không bị nhầm lẫn những chi tiết của lịch sử?

Giáo viên của hai môn có quan hệ “họ hàng” này ít khi ngồi lại cùng nhau để bàn bạc trao đổi thêm về chuyên môn. Nhiều giáo viên Ngữ văn không nhớ nhiều kiến thức lịch sử (phần lớn chỉ xem chú thích rồi giải nghĩa lại cho học sinh, ít có sự trao đổi với giáo viên dạy lịch sử và ngược lại)

  1. Định hướng cách tích hợp giữa hai chương trình Ngữ văn và Lịch sử ở trường THPT
  2. Giới thiệu sách và khuyến khích học sinh đọc thêm sách liên quan ở cả hai giờ dạy Lịch sử và Ngữ văn

Ở môn Lịch sử: Ví dụ: dạy bài Chiến dịch Điện Biên Phủ giới thiệu học sinh đọc thơ Hoan hô chiến sĩ Điện Biên (Tố Hữu); dạy Nước Việt Nam từ 2.9.195 – 19.12.1946, giới thiệu cho học sinh đọc Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến; Hồi ký Những năm tháng không thể nào quên (Võ Nguyên Giáp), …

Ở môn văn: Dạy bài Thuật hoài (Phạm Ngũ Lão); Cảm hoài (Đặng Dung) giới thiệu học sinh đọc lại Lịch sử thời Trần; Cáo Bình Ngô (Nguyễn Trãi), giới thiệu học sinh đọc Lịch sử thời kỳ đầu của nhà Hậu Lê, … 

  1. Giới thiệu phim ảnh, bản đồ, … tích hợp kiến thức lịch sử khi dạy Ngữ văn

Ví dụ: Môn Ngữ văn, dạy Việt Bắc (Tố Hữu) chương trình Ngữ văn 12, cho học sinh xem bản đồ chiến dịch Điện Biên Phủ. Bài Vợ nhặt (Kim Lân) cho học sinh xem ảnh lịch sử về nạn đói đầu năm 1945, …

  1. Định hướng tích hợp trong từng bài học cụ thể
  2. Môn Lịch sử tích hợp với môn Ngữ văn (chúng tôi sử dụng sách dành cho chương trình nâng cao)

 

Lớp

BÀI HỌC LỊCH SỬ

KIẾN THỨC MÔN NGỮ VĂN

Văn học dân gian

Văn học viết

10

Các quốc gia cổ đại phương Tây – Hi Lạp và Rôma

Ô-đi-xê và I-li-at, hai sử thi của Homerơ

 

Trung Quốc thời Đường – Tống

 

Thơ Đường của Lý Bạch, Thôi Hiệu, Đỗ Phủ, Vương Xương Linh, Vương Duy và Bạch Cư Dị

Trung quốc thời Minh, Thanh

 

Tiểu thuyết Tam Quốc diễn nghĩa

Sự phát triển lịch sử và văn hoá Ấn Độ

Sử thi Ra-ma-y-a-na

 

Nước Văn Lang, Âu Lạc

Truyền thuyết: Con rồng cháu tiên; Thánh Gióng; Bánh chưng bánh dày, ... An Dương Vương Mỵ Châu – Trọng Thuỷ, ...

Ai về Phú Thọ cùng ta/ Nhớ ngày giỗ tổ tháng ba mồng mười.

Ai về đến ngả ba Chanh/ Ghé xem phong cảnh Loa Thành Thục Vương/ Cổ Loa thành ốc lạ thường/ Trải bao năm tháng nẻo đường còn đây

 

Các cuộc đấu tranh giành độc lập (từ TK VI đến TK X)

Ru con con ngủ cho lành/ Để mẹ gánh nước rửa bành con voi/ Muốn coi lên núi mà coi/ Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng.

Sa Nam trên chợ dưới đò/ Nơi Mai Hắc Đế dựng cờ dụng binh

 

Xây dựng và phát triển văn hoá dân tộc (TK X – TK XV)

 

Đời vua Thái Tổ Thái Tông/ Lúa trổ đầy đồng trâu chẳng thèm ăn

Sông nhất là sông Bạch Đằng/ Ba lần giặc đến ba lần giặc tan, ... Cao nhất là núi Lam Sơn/ Có ông Lê Lợi trong ngàn bước ra, ... Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi, ...

 

Văn học TK X – TK XV: Thơ Lý – Trần, Chiều dời đô; Hịch tướng sĩ; Phú sông Bạch Đằng; ... Cáo Bình Ngô; Hồng Đức Quốc âm thi tập; Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi); ..., các đoạn trích của Đại Việt sử ký toàn thư về Trần Thủ Độ; Trần Quốc Tuấn, ...

Tình hình văn hoá tư tưởng TK XVI – TK XVIII

Lê còn thì Trịnh cũng còn/ Lê mà sụp đổ Trịnh không vẹn tuyền/

Trăm quan có mắt như mờ/ Để cho Huy Quận vào sờ chánh cung

Từ ngày Cảnh Trị lên ngôi/ Khoai chửa mọc chồi đã nhổ lên ăn

Luỹ Thầy ai đắp mà cao/ Sông Gianh ai bới ai đào mà sâu.

Bần gie đóm đậu sáng ngời/ Rạch Gầm Xoài Mút muôn đời oai linh.

Nguyễn ra rồi Nguyễn lại về/ Chúa Trịnh mất đất, vua Lê hãy còn.

Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm; Truyền kỳ mạn lục - Nguyễn Dữ, ...

Đời sống văn hoá tư tưởng nửa đầu TK XIX

Tháng tám có chiếu vua ra/ Cấm quần không đáy người ta hãi hùng/ Từ ngày Tự Đức làm vua/ Cơm chẳng đầy nồi trẻ khóc như ri; Một ngày mà có ba vua/ Vua sống vua chết, vua thua chạy dài/

Thơ Hồ Xuân Hương; Nguyễn Công Trứ; Bà Huyện Thanh Quan, Cao Bá Quát, đỉnh cao là Truyện Kiều của Nguyễn Du, ... các thể loại loại của văn học dân tộc phát triển mạnh mẽ: ngâm khúc hình thức STLB; lục bát và hát nói.

11

Phong trào công nhân quốc tế cuối TK XIX – đầu TK XX

 

Ba công hiến vĩ đại của Mác(Ăng-ghen)

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858 -1884)

Rằng năm Tự Đức hãy còn/ Có năm ba chiếc tàu con nó vào ..../ Tàu này tàu của nước Tây/ Nó sang làm giặc sự này tại đâu? Giặc Tây đánh đến Cần Giờ/ Bảo đừng thương nhớ đợi chờ uổng công

Gò công anh dũng tuyệt vời/ Ông Trương “đám lá tối trời” đánh Tây.

Kẻ sĩ cho chí kẻ nông/ Ai ai rồi cũng một lòng chán vua.

Thơ Nguyễn Đình Chiểu, Huỳnh Mẫn Đạt (Hoả hồng Nhựt Tảo kinh thiên địa/ Kiếm bạc Kiên Giang khấp quỷ thần); Nguyễn Khuyến, ...

Phong trào chống Pháp của nhân dân Việt Nam cuối TK XIX

Vì ai thất thủ kinh đô/ Vì ai ấu chúa phải vô chốn này; Hàm Nghi chính thực vua trung/ Còn như Đồng Khánh là ông vua xằng

Có chàng Công Tráng họ Đinh/ Dựng cờ Ba Đình chống đánh giặc Tây, ...

Thơ văn Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương

Phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam từ đầu TK XX đến Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914)

Chiều chiều trên Phủ Văn Lâu/ Ai ngồi/ Ai câu/ Ai sầu/ Ai thảm/ Ai thương/ Ai cảm/ Thuyền ai thấp thoáng bến sông/ Nghe câu mái đẩy chạnh lòng nước non; Bán thân đổi mấy đồng xu/ Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng.

Thơ văn Phan Bội Châu

12

Phong trào giải phóng dân tộc 1939 – 1945

Từ khi có Đảng Đông Dương/ Dân ta biết rõ con đường đấu tranh

Biển Đông có lúc vơi đầy/ Mối thù đế quốc có ngày nào quên

Thơ Tố Hữu (tập Từ Ấy)

Nhật ký trong tù - HCM

Thơ ca Cách mạng

Cao trào kháng Nhật cứu nước và Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945. Nước Việt Nam dân Chủ Cộng Hoà ra đời

 

Tuyên ngôn độc lập- HCM

 

Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hoà từ sau ngày 2.9.1945 đến trước ngày 19.12.1946

 

Hồi ký Những năm tháng không thể nào quên (Võ Nguyên Giáp)

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến -HCM 

Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp

 

Thơ ca kháng chiến chống Pháp: Tây Tiến (Quang Dũng); Đồng Chí (Chính Hữu); Nhớ (Hồng Nguyên); Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm), … Thơ Hồ Chí Minh, …

Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953 – 1954)

 

Hoan hô chiến sĩ Điện Biên; Việt Bắc(Tố Hữu); Đất nước (Nguyễn Đình Thi), …

Xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, chiến đấu chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ ở miền Nam (1961 – 1965)

 

Ba mươi năm đời ta có Đảng, tập Gió Lộng (Tố Hữu); Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên); Sông Đà (Nguyễn Tuân); …

Những đứa con trong gia đình(Nguyễn Thi); Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành); Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc (Phạm Văn Đồng); …

Việt Nam trên đường đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội (1986 – 2000)

 

Văn học Việt Nam từ 1986 – hết TK XX: Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu); Một người Hà Nội (Nguyễn Khải); Hồn Trương Ba da Hàng thịt (Lưu Quang Vũ), …

 


 

  1. Kiến thức lịch sử tích hợp khi dạy Ngữ văn 

 

Phân loại

BÀI HỌC NGỮ VĂN

KIẾN THỨC LỊCH SỬ

Khái quát chung

Tổng quan nền văn học Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử

Tóm tắt lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến nay: từ nguồn gốc – 1858; 1858 – 1918; 1919 – 2000.

VHDG nước ngoài

Ô-đi-xê

Hy Lạp cổ đại

Ramayana

Ấn Độ cổ đại

VHDG Việt Nam

Chử Đồng Tử

Hùng Vương – Văn Lang

An Dương Vương và Mỵ Châu – Trọng Thuỷ

Quốc gia Âu Lạc

Văn học trung cận đại nước ngoài

Thơ Lý Bạch; Đỗ Phủ; Bạch Cư Dị; Vương Duy,..

Trung Quốc đời Đường

Tam quốc diễn nghĩa

Trung Quốc thời cổ đại và thời Minh – Thanh

Thơ Haiku

Nhật Bản

Sếcxpia (Romeo – Juliet)

Phong trào văn hoá Phục Hưng (ở Anh)

Văn học Việt Nam trung đại

Khái quát văn học Việt Nam từ TK X – hết TK XIX

Lịch sử phong kiến Việt Nam từ TK X – 1858 và 1858 – 1918

Thuật hoài (Phạm Ngũ Lão); Cảm hoài (Đặng Dung)

Đại Việt thời Trần

Trần Thủ Độ

Trần Quốc Tuấn

Phú sông Bạch Đằng (Trương Hán Siêu)

Cáo Bình Ngô; Cảnh tình ngày hè (Nguyễn Trãi)

Đại Việt thời Hậu Lê (TK XV)

Các ngâm khúc, Truyện Kiều, truyện Nôm khuyết danh, … Thượng kinh ký sự (Lê Hữu Trác); Chiếu cầu hiền (Ngô Thì Nhậm)

Đại Việt thế kỷ XVII – XVIII – XIX

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu); Thơ Nguyễn Khuyến, Thơ Tú Xương, …

Việt Nam cuối TK XIX, khi Pháp đánh Nam Kỳ (1861) và chiếm cả Bắc Kỳ, …

Văn học Việt Nam hiện đại

Bài ca chúc tết thanh niên (Phan Bội Châu)

Việt Nam từ 1918 về sau

Khái quát văn học Việt Nam từ đầu TK XX – 1945

Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918 và 1919 – 1945

Văn học lãng mạn: Thơ/ truyện ngắn, …

Văn học hiện thực: truyện ngắn

Văn học Cách mạng: Từ ấy, NKTT, …

Vợ nhặt (Kim Lân)

Lịch sử Việt Nam những ngày trước Cách mạng tháng 8.1945

Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài)

Lịch sử Việt Nam trước Cách mạng dưới chế độ thực dân chúa đất miền núi)

Khái quát văn học Việt Nam từ 1945 – hết TK XX

Lịch sử Việt Nam từ 1945 – hết TKXX

Tuyên ngôn độc lập

Cách mạng tháng 8.1945

Cách mạng Bắc Mỹ - 1776/ Cách mạng Tư sản Pháp - 1789/ Chiến tranh thế giới lần 2 (1939 -1945)

Tây Tiến (Quang Dũng); Việt Bắc (Tố Hữu)

Những năm tháng không thể nào quên (Võ Nguyên Giáp)

Việt Nam những ngày kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954)

Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên); Sông Đà (Nguyễn Tuân)

Miền Bắc xây dựng XHCN (1955 – 1964)

Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi); Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành); Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm), … Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc, …

Lịch sử Việt Nam những năm tháng chống Mỹ

Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu); Một người Hà Nội (Nguyễn Khải); Đàn ghi ta của Lorca (Thanh Thảo);

Việt Nam trên đường đổi mới đi lên xây dựng CNXH (1986 – 2000)

Văn học hiện đại nước ngoài

Ba cống hiến vĩ đại của Mác

Phong trào công nhân quốc tế cuối TK XIX – đầu TK XX

Người trong bao (Sêkhốp)

Nước Nga cuối TK XIX

Lão Gô-ri-ô (Balzac)

Pháp TK XVIII - XIX

Những người khốn khổ (V. Hugo)

 

Ngoài ra còn có thể tích hợp dọc: Trung Quốc (cuối TK XIX – đầu TK XX), Lịch sử 11, tích hợp với tác giả Lỗ TấnThuốc (Ngữ văn 12); hoặc Phong trào Văn hoá Phục hưng (Lịch sử 10) có thể tích hợp với SêcxpiaRomeo-Juliet (Ngữ văn 11); bài Nhật Bản (lịch sử 11) có thể liên hệ với thơ HaiKu (Ngữ văn 10), bài lịch sử: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858 -1884) tích hợp với Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc (Pham Văn Đồng), Ngữ văn 12.

 

  1. Kết luận

3.1. Tăng cường sự hợp tác giữa giáo viên, cũng như không để học sinh “quên” lãng phí kiến thức không biết sử dụng chúng khi làm bài, trong khi chúng rất “gần” nhau. Nhiều đơn vị bài học, học sinh học môn này, đã biết luôn kiến thức của môn kia và ngược lại.

3.2. Không nên và không thể đồng nhất giữa văn học và lịch sử, nhưng cũng không nên biệt lập và tách chúng ra quá xa.

3.3. Linh hoạt trong cách tích hợp, làm sao cho lượng kiến thức vừa đủ để học sinh tiếp thu, tránh nặng nề, trùng lập, không biến giờ dạy văn thành dạy sử hoặc ngược lại, nhưng cũng không thể xem nhẹ bỏ qua, không nhắc đến như trước nay. Chủ yếu là liên hệ, so sánh, để khắc sâu kiến thức bài học cho học sinh

3.4. Để nâng cao chất lượng dạy học hai bộ môn khoa học xã hội mà nhiều học sinh ngao ngán, chúng tôi đưa ra hướng tích hợp này với hy vọng cũng sẽ góp được một phần nhỏ để thực hiện mục tiêu giáo dục mà chúng ta đã đề ra.

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Trần Đình Sử (tổng chủ biên), Sách giáo khoa Ngữ văn, lớp 10, lớp 11, lớp 12, Nxb Giáo dục. H. 2006, 2007, 2008

2. Phan Ngọc Liên (tổng chủ biên), Sách giáo khoa Lịch sử, lớp 10, lớp 11, lớp 12, Nxb Giáo dục. H. 2006, 2007, 2008

3. Phạm Hồng Việt, Ca dao lịch sử, Nxb Giáo dục, H. 2007

 

Trần Minh Thương, Trường THPT Mai Thanh Thế, Ngã Năm, huyện Ngã Năm, Sóc Trăng; ĐT: 0988092618. email: tranminhthuong1995@yahoo.com.vn

Từ khóa: n/a
  • Show comment
  • -- Add comment
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn