TRANG CHÍNH GIỚI THIỆU VỀ TRƯỜNG   VĂN BẢN    ALBUM   LIÊN HỆ - GÓP Ý THÀNH VIÊN CLB VĂN HỌC     DIỄN ĐÀN  

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 2


Hôm nayHôm nay : 536

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 536

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 765431

 

 

 

 

 

 

 

 

Trang nhất » Thông tin của trường » THÔNG TIN TỔ CHUYÊN MÔN - CHIA SẼ KINH NGHIỆM

Trao đổi về dạy các bài thực hành Tiếng việt ở trường THPT

Thứ tư - 23/03/2011 07:41
Trong chương trình ngữ văn bậc THPT phần phân môn Tiếng việt có một số bài thực hành,việc thực hiện như thế nào cho hiệu quả ở các tiết dạy?đây là điều mà nhiều giáo viên trăn trở.Bài viết sau đây của thầy Trần Minh Thương sẽ trao đổi với chúng ta một số kinh nghiệm khi thực hiện các bài thực hành Tiếng việt.

VẤN ĐỀ DẠY CÁC BÀI THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT

Ở CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN BẬC THPT HIỆN NAY

                                                                                                            Th.S Trần Minh Thương

  1. Cấu trúc chương trình và thực trạng việc dạy – học các bài “thực hành” ở chương trình THPT hiện nay

1.1. Cấu trúc chương trình

1.1.1.Chương trình Ngữ văn, ban cơ bản hiện hành phân bố các bài dạy thực hành tiếng Việt ở cả ba cấp lớp 10; 11; 12 cụ thể như sau:

 

Lớp

Tuần

Tên bài

Số tiết PPCT*

10

15

Thực hành biện pháp tu từ ẩn dụ và hoán dụ

1

31

Thực hành các biện pháp tu từ phép điệp và phép đối

1

11

6

Thực hành về thành ngữ, điển cố

1 – 1,5t

7

Thực hành về nghĩa của từ trong sử dụng

1

14

Thực hành về lựa chọn trật tự các bộ phận trong câu

1

16

Thực hành về sử dụng một số kiểu câu trong văn bản

2

12

11

Thực hành một số phép tu từ ngữ âm

1

12

Thực hành một số phép tu từ cú pháp

1

25

Thực hành hàm ý

1

26

Thực hành hàm ý (tt)

1

(*): Tuỳ theo địa phương, PPCT theo cách “mở” như gợi ý của Bộ, ở đây sử dụng cách PPCT từ thực tế ở đơn vị.

1.1.2.Cấu trúc bài học

Các bài học “thực hành” được các tác giả SGK (bộ cơ bản), biên soạn thành các dạng bài tập được triển khai theo số thứ tự. Ví dụ bài Thực hành về thành ngữ, điển cố có 7 bài tập được đánh số từ 1 đến 7; bài Thực hành về lựa chọn trật tự các bộ phận trong câu triển khai thành: I: Trật tự trong câu đơn; II. Trật tự trong câu ghép; bài Thực hành các biện pháp tu từ phép điệp và phép đối, gồm hai phần: I. Thực hành về phép điệp (điệp ngữ); II. Luyện tập về phép đối; bài Thực hành một số phép tu từ cú pháp gồm: I. Phép lặp cú pháp; II. Phép liệt kê; III. Phép chêm xen; …

1.2. Thực trạng của việc dạy và học

- Thực tế học sinh ở vùng nông thôn sâu, mặt bằng dân trí thấp, gia đình phần lớn là nông dân, chuyện đọc sách báo, tư liệu tham khảo đối với các em còn khá xa lạ. Một số có điều kiện hơn thì lại không chú tâm tìm hiểu, học hỏi, đọc những loại sách báo mang chức năng giải trí, thoả mãn sự tò mò là chính.

- Đa phần học sinh và một số giáo viên ngán ngại phần tiếng hơn phần văn. Tiếng Việt không nằm trong cấu trúc chương trình thi tốt nghiệp THPT, nên cả người dạy lẫn người học đều mang tâm lý qua loa, “dễ người dễ ta”.

- Thời gian học không nhiều, lại ít có sự đào sâu dẫn đến hiện trạng phổ biến khó nhớ, mau quên, học vẹt, học thuộc lòng chứ thật sự không hiểu hết vấn đề. Kiến thức nói chung và phần lý thuyết tiếng Việt nói riêng học ở năm trước thì năm sau đã quên, chứ chưa nói đến chuyện học ở bậc THCS lên bậc THPT mới thực hành. Học sinh thụ động trong việc tiếp nhận kiến thức, ít chịu hỏi lại những vấn đề mình chưa hiểu kỹ, chưa khắc sâu, … phần đông các em học cho … “qua thì thì thôi!”

- Một số học sinh mất kiến thức cơ bản, yếu kém chưa được bồi dưỡng kịp thời, không hiểu, thậm chí hiểu rất ngô nghê về tiếng Việt, đôi lúc vì nó không phải là tiếng mẹ đẻ.

- Khi hướng dẫn học sinh thực hành nhiều giáo viên bị sơ cứng không linh động, ít sáng tạo, nên hiệu quả đạt được so với mục tiêu bài học đặt ra chưa thực sự như ý muốn.

- Chương trình mới với việc lấy học sinh làm trung tâm, nhưng trước một đối tượng như vậy, người dạy, tức giáo viên, nhiều người còn mang tâm lý “sợ” thoát ly kiến thức từ sách giáo khoa, sách giáo khoa biên soạn theo chương trình tích hợp, kiến thức rộng, giờ lên lớp cho phần thực hành lại bị khống chế (đa số các tiết thực hành chỉ có 45 phút, tức tương đương với một tiết dạy), những điều vừa nêu cũng gây nên những khó khăn không nhỏ.

  1. Giải pháp

2.1. Cơ sở lý luận

Mục tiêu biên soạn sách giáo khoa, ở phần tiếng Việt, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ rõ:

a. Hình thành một số kiến thức về ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng.

b. Nâng cao kĩ năng sử dụng tiếng Việt khi nói, khi viết và năng lực phân tích, lĩnh hội văn bản (lời nói) khi nghe, khi đọc. Những kĩ năng này được luyện tập, củng cố và nâng cao qua các hoạt động thực hành. Đồng tời với các kĩ năng ngôn ngữ, là các kĩ năng nhận thức, tư duy cũng được phát triển và hoàn thiện.

c. Bồi dưỡng tình cảm yêu quý tiếng Việt, thái độ tôn trọng và ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Những tình cảm và ý thức đó cần được hình thành nuôi dưỡng thường xuyên, qua từng bài học, tiết học tiếng Việt. [72 – 73; 1]

2.2. Cơ sở thực tiễn

Từ những thực tiễn đã nêu trong thực trạng, chúng tôi nhận thấy để nâng cao được chất cho các bài dạy thực hành, chúng ta nên linh hoạt, chủ động tích cực tìm giải pháp cho phù hợp với đối tượng học sinh, phù hợp với một khung thời gian cho phép nhất định (chủ yếu mỗi đơn vị bài thực hành là 45 phút – 1 tiết dạy)

2.2.1. Về phía giáo viên: Khi soạn giáo án nên chú trọng đến tính thực tế trong những ví dụ, trong các bài tập sao cho vừa gần gũi với học sinh, vừa đảm bảo tính “đồng dạng” về “chất” so với các bài tập mà SGK đưa ra.

Linh động thực hiện cách chia nhóm để học sinh thực hành, liên tục điều chỉnh các nhóm khi cần thiết đảm bảo cho tất cả các học sinh đều làm việc, tránh tình trạng độc giảng, nặng nề, ít hiệu quả và gây nhàm chán.

2.2.2. Về phía học sinh: Tất nhiên, giờ thực hành học sinh phải làm việc nhiều hơn tiết học tiếp thu kiến thức bình thường. Học sinh phải chuẩn bị bảng phụ, chuẩn bị ý kiến tham gia phát biểu xây dựng bài. Xem đây cũng là một dạng thực hành nữa cho học sinh – thực hành phát biểu bày tỏ quan điểm của cá nhân về một vấn đề đã được đặt ra.

2.3. Bố cục bài dạy

Từ thực tế và các vấn đề liên quan vừa nêu trên, chúng tôi mạnh dạn đưa ra bố cục cho các bài tập thực hành gồm ba phần chính sau đây:

I. Củng cố kiến thức

Ví dụ ở bài: Thực hành biện pháp tu từ ẩn dụ và hoán dụ, giáo viên phải củng cố lại cho học sinh thế nào là ẩn dụ, thế nào là hoán dụ, các dạng của hoán dụ, phân biệt giữa ẩn dụ với so sánh tu từ, phân biệt ẩn dụ tu từ với hoán dụ tu từ, …

Ở bài: Thực hành về thành ngữ, điển cố giáo viên phải giúp học sinh củng cố lại khái niệm thành ngữ, cách phân biệt thành ngữ với tục ngữ; thế nào là điển tích, điển tích khác thi liệu Hán học ở đâu, v.v…

Chúng tôi xem đây là nền tảng căn bản để học sinh bước vào phần thực hành.

Học sinh rất khó bước vào thực hành ngay như cách triển khai bài học mà SGK đã thể hiện, nguyên nhân thế nào thì chúng tôi đã bước đầu chỉ ra.

II. Luyện tập

Phần lớn các bài học thực hành tiếng Việt, giáo viên có thể chia nhóm cho học sinh thực hiện, sau đó giáo viên cho học sinh nhận xét và chỉnh sửa.

Vấn đề đặt ra là giáo viên nên chọn thêm những dạng bài tập thực hành tương đương về độ khó, cùng dạng với SGK để học sinh thực hiện, vừa linh động, hấp dẫn, bởi học sinh tự thực hiện, tránh được việc học sinh chép sách giải, chép tập cũ của những học sinh lớp trước mà các em mượn được, …

Nên cho học sinh các bài tập về nhà, xoáy trọng tâm vào phần tạo văn bản mới (có ứng dụng phần thực hành vừa làm trên lớp).

III. Kết luận (hoặc nêu Giá trị của …)

Tuỳ theo từng bài thực hành chúng ta rút ra giá trị của phần kiến thức các em vừa phân tích. Không nên để hiện tượng cả học sinh và giáo viên thực hiện xong tiết dạy nhưng hiệu quả là gì, học sinh không đọng lại.

Ví dụ: Bài Thực hành về lựa chọn trật tự các bộ phận trong câu, chúng ta có thể chốt lại mấy ý sau:

- Câu tiếng Việt rất đa dạng, nó thể hiện sự phong phú, thể hiện sự giàu và đẹp của tiếng nói vừa gắn liền với tâm hồn dân tộc.

- Các nhà văn, nhà thơ luôn có ý thức trong việc lựa chọn trật tự các bộ phận trong câu nhằm tạo ra hiệu quả thẩm mỹ cho tác phẩm. Khi phân tích, tiếp cận tác phẩm, người đọc, nhất là học sinh cần chú ý hiện tượng này (GV có thể nêu nhiều ví dụ để minh hoạ cho các em).

- Khi làm bài, khi tạo văn bản, học sinh cũng cần phải chú ý cách sắp xếp các bộ phận trong câu sao cho đảm bảo được trật tự theo tiêu chí ngữ pháp tiếng Việt vừa thể hiện được quan điểm của người tạo nên văn bản.

  1. Kết luận

- Tiếng Việt là một phân môn khoa học hấp dẫn, đa dạng nhưng không dễ để tiếp nhận, nhất là đối với trình độ học sinh phổ thông và thời lượng cho phép.

- Chúng ta, những thầy cô giáo phải làm sao để học sinh luôn luôn có ý thức trong việc lĩnh hội kiến thức cũng như khi sử dụng tiếng nói và chữ viết để giao tiếp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình SGK lớp 10 Trung học phổ thông, môn Ngữ văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006.
  2. Phan Trọng Luận (tổng chủ biên), Sách giáo khoa Ngữ văn, lớp 10; 11; 12, Nxb Giáo dục, H. 206; 207; 208.

 

 

Trần Minh Thương, Trường THPT Mai Thanh Thế, huyện Ngã Năm, Sóc Trăng;  ĐT:0988092618, mail: tranminhthuong1995@yahoo.com.vn

Từ khóa: n/a
  • Show comment
  • -- Add comment
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn