TRANG CHÍNH GIỚI THIỆU VỀ TRƯỜNG   VĂN BẢN    ALBUM   LIÊN HỆ - GÓP Ý THÀNH VIÊN CLB VĂN HỌC     DIỄN ĐÀN  

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 3

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 2


Hôm nayHôm nay : 431

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 30881

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 764664

 

 

 

 

 

 

 

 

Trang nhất » Thông tin của trường » THÔNG TIN TỔ CHUYÊN MÔN - CHIA SẼ KINH NGHIỆM

Xây dựng giáo án ra đề và giáo an trả bài kiểm tra cho học sinh ở môn Ngữ văn

Thứ bảy - 05/03/2011 20:09
Kiểm tra để đánh giá kết quả học tập của học sinh là một yêu cầu quan trọng trọng quá trình dạy học trong đó có môn ngữ văn.Để giúp giáo viên nhận thức tốt vấn đề này,thầy Trần Minh Thương tổ trưởng tổ ngữ văn có chuyên đề:Xây dựng giáo án ra đề và giáo án trả bài cho học sinh ở môn ngữ văn trường THPT .Chúng tôi xin giới thiệu chuyên đề này cùng bạn đọc.

 

XÂY DỰNG GIÁO ÁN RA ĐỀ VÀ GIÁO ÁN TRẢ BÀI KIỂM TRA CHO HỌC SINH Ở MÔN NGỮ VĂN BẬC THPT

Th.S Trần Minh Thương

Trường THPT Mai Thanh Thế

 

            1. Đặt vấn đề

            Chúng ta biết rằng mục tiêu giáo dục phổ thông của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là đào tạo nguồn nhân lực có đủ đức, trí, thể, mỹ, đặc biệt là hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sáng tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng hợp tác và kỹ năng xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

            Đánh giá kết quả học tập trong nhà trường phổ thông nói chung và môn Ngữ Văn nói riêng bước đầu có đổi mới trong việc đa dạng hoá các loại câu hỏi, song nhìn chung vẫn còn ít nhiều hạn chế. Đánh giá thiên về chủ quan, áp đặt, dựa vào kinh nghiệm, việc đánh giá còn phiến diện, chưa hướng tới đánh giá được năng lực, phẩm chất của người học. Phương pháp đánh giá còn nghèo nàn, chưa đảm bảo tổ được các kỹ thuật cần thiết.

            Từ thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy tầm quan trọng của việc xây dựng giáo án đề kiểm tra và giáo án trả bài kiểm tra của môn Ngữ Văn ở bậc THPT. Chính vì thế chúng tôi chọn nó làm đề tài nghiên cứu cho phần báo cáo của mình.

            1.1. Khảo sát chương trình

            Chương trình sách giáo khoa bậc THPT hiện hành bố trí các bài kiểm tra định kỳ như sau

 

LỚP

SÁCH CƠ BẢN

SÁCH NÂNG CAO

10

Tuần 3; Tiết: 7– 8: Bài viết số 1; 

Tuần 7; Tiết 20–21: Bài viết số 2.

Tuần 11; Ra đề bài viết số 3 (về nhà)

Tuần 19; Tiết 52–54: Thi HK: Bài viết số 4

Tuần 23; Tiết 64–65: Bài viết số 5.   

Tuần 26: Ra đề bài viết số 6 (về nhà). 

Tuần 37; Tiết 103-105: Tuần thi HK: Bài viết số 7

Tuần 3; Tiết 11–12: Bài viết số 1;

Tuần 8; Tiết 31–32: Bài viết số 2.

Tuần 12; Ra đề bài viết số 3 (về nhà).

Tuần 19; Tiết 70-72: Tuần thi HK: Bài viết số 4

Tuần 22; Tiết 81–82: Bài viết số 5;

Tuần 25; Ra đề bài viết số 6 (về nhà).

Tuần 30; Tiết 113-114: Bài viết số 7.

Tuần 37; Tiết 139-140: Tuần thi HK: Bài viết số 8

11

Tuần 2; Tiết 7 – 8: Bài viết số 1

Tuần 5; Ra đề bài viết số 2: NLVH (về nhà)

Tuần 9; Tiết 35 – 36: Bài viết số 3 (NLVH)

Tuần 17; Tiết 65 – 66: Kiểm tra HK1

Tuần 21; Tiết 80 – 81: Bài viết số 5: NLXH.

Tuần 24; Bài viết số 6: NLVH (về nhà).

Tuần 35; Tiết 122-123: Kiểm tra HK 2

Tuần 2; Tiết 7 – 8: Bài viết số 1.

Tuần 4; Bài viết số 2: NLXH (về nhà)

Tuần 9; Tiết 35 – 36: Bài viết số 3 (NLVH).

Tuần 17; Tiết 65- 66: Kiểm tra HK 1

Tuần 21; Tiết 82–83: Bài viết số 5 (NLVH).

Bài viết số 6: NLVH (về nhà)

Tuần 29; Tiết 116: Bài viết số 7 (NLXH)

Tuần 35; Tiết 137-139: Kiểm tra HK 2

12

Tuần 3; Tiết 9: Bài viết số 1: NLXH

Tuần 6; Bài viết số 2: NLXH (về nhà)

Tuần 11; Tiết 32 – 33: Bài viết số 3: NLVH

Tuần 17; Tiết 49 – 51: Kiểm tra HK 1.

Tuần 24; Bài viết số 6: NLVH (về nhà)

Tuần 35; Tiết 103 – 104: Kiểm tra HK 2

Tuần 2: Bài viết số 1: NLXH (về nhà)

Tuần 6; Tiết 23 – 24: Bài viết số 2 (NLVH).

Tuần 12; Tiết 47 – 48: Bài viết số 3 (NLVH).

Tuần 17; Tiết 65 – 66: Kiểm tra HK 1

Tuần 22; Tiết 87 – 88: Bài viết số 5 (NLVH).

Bài viết số 6: NLVH (về nhà)

Tuần 29; Tiết 115 – 116: Bài viết số 7 (NLXH)

 


 

Các tiết trả bài kiểm tra

 

LỚP

SÁCH CƠ BẢN

SÁCH NÂNG CAO

10

Tuần 6; Tiết 16: Trả bài viết số 1; 

Tuần 11; Tiết 33: Trả bài viết số 2

Tuần 16; Tiết 46: Trả bài viết số 3; 

Tuần 26; Tiết 73: Trả bài viết số 5

Tuần 31; Tiết 88: Trả bài viết số 6.

Tuần 37; 105: Trả bài viết

Tuần 7; Tiết 28: Trả bài viết số 1.

Tuần 12; Tiết 48: Trả bài viết số 2;

Tuần 16; Tiết 63: Trả bài viết số 3;

Tuần 19; Tiết 72: Trả bài viết

Tuần 25; Tiết 93: Trả bài viết số 5

Tuần 29; Tiết 109: Trả bài viết số 6;

Tuần 33; Tiết 135: Trả bài viết số 7;

Tuần 37; Tiết 140: Trả bài viết

11

Tuần 5; Tiết 20: Trả bài viết số 1

Tuần 8; Tiết 31: Trả bài viết số 2; 

Tuần 12; Tiết 48: Trả bài viết số 3.

Tuần 19; Tiết 76: Trả bài viết số 4.

Tuần 24; Tiết 89: Trả bài số 5.

Tuần 26; Tiết 96: Trả bài viết số 6.

Tuần 37; Tiết 139: Trả bài viết số 7.

Tuần 4; Tiết 16: Trả bài viết số 1; 

Tuần 7; Tiết 28: Trả bài viết số 2.

Tuần 14; Tiết 55: Trả bài viết số 3.

Tuần 19; Tiết 76: Trả bài viết số 4.

Tuần 24; Tiết 96: Trả bài viết số 5; 

Tuần 27; Tiết 108: Trả bài viết số 6.

Tuần 32; Tiết 138: Trả bài viết số 7. 

Tuần 37; Tiết 147: Trả bài viết số 8

12

Tuần 6; Tiết 16: Trả bài viết số 1

Tuần 9; Tiết 25: Trả bài viết số 2.

Tuần 15; Tiết 45: Trả bài viết số 3.

Tuần 20; Tiết 59 – 60: Trả bài viết số 4.

Tuần 24; Tiết 72: Trả bài viết số 5

Tuần 29; Tiết 85 – 86: Trả bài viết số 6

Tuần 37; Tiết 111: Trả bài viết số 7

 

Tuần 4; Tiết 16: Trả bài viết số 1.

Tuần 9; Tiết 36: Trả bài viết số 2.

Tuần 15; Tiết 60: Trả bài viết số 3.

Tuần 19; Tiết 76: Trả bài viết số 4.

Tuần 25; Tiết 100: Trả bài viết số 5;

Tuần 28; Tiết 128: Trả bài viết số 6.

Tuần 32; Tiết 127: Trả bài viết số 7;

Tuần 37; Tiết 148: Trả bài viết số 8.

1.2. Khảo sát từ công tác dạy – học

Qua khảo sát thực tế từ các giáo viên trong tổ chuyên môn và công tác thanh tra ở một số trường THPT trong tỉnh chúng tôi nhận thấy:

Thứ nhất, một số giáo viên chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của giáo án xây dựng đề kiểm tra và giáo án trả bài kiểm tra. Thầy, Cô chỉ soạn “cho có”, qua loa, mang nặng tính hình thức, thiếu chiều sâu. Giáo án ra đề kiểm tra của phần lớn giáo viên chủ yếu chỉ có đề ra với một số câu hỏi nào đó để học sinh thực hiện mà thôi,.. Thậm chí kỹ thuật viết đề trắc nghiệm khách quan không chuẩn.

Ví dụ minh họa:

            - Tác phẩm nào trong các tác phẩm sau đây là sử thi?(A.Ramayana/ B. Chử Đồng Tử/ C. Truyện An Dương Vương và Mỵ Châu – Trọng Thuỷ/ D. Tiễn dặn người yêu).

Câu hỏi dùng từ sử thi mà đáp án C. Ghi “truyện …”  thì không ổn; không nhiễu.

- Cô Tấm chun ra từ quả gì? (A. Cau/ B. Dâu/ C. Thị/ D. Dừa)

Câu lệnh gây phản cảm thẩm mỹ ở từ “chun”

- Ai là dịch giả của Chinh phụ ngâm khúc? (A. Hồ Xuân Hương/ B. Đoàn Thị Điểm/ C. Bà Huyện Thanh Quan/ D. Nguyễn Khuyến)

Câu lệnh không chính xác (thiếu cụm từ “trong số các nhà thơ sau đây”) học sinh có thể không trả lời (bởi các em còn biết đến Phan Huy Ích cũng là dịch giả của tác phẩm này).

v.v…

Ngay cả đề tự luận, một số giáo viên đơn giản hóa vấn đề, hiểu hình tượng nghệ thuật bằng cách diễn nôm nên dẫn đến phản cảm:

Ví dụ: Có giáo viên ra đề như sau:

Hãy giải thích và bình luận câu: Lửa thử vàng gian nan thử sức, dùng vàng thử đàn bà, dùng đàn bà thử đàn ông. Cho đối tượng là học sinh lớp 10.

Tóm lại, từ thực tế chúng tôi nhận thấy rằng các giáo án kiểm tra hiện nay (nếu có) thì tập trung vào các mặt sau:

+ Đa số các đề kiểm tra Ngữ Văn chỉ khuyến khích tiếp thu kiến thức một chiều, ít chú ý sáng tạo, …

+ Chưa chú ý rèn kỹ năng diễn đạt bằng cách nói và viết cho học sinh.

+ Quá trình kiểm tra còn quá coi trọng điểm số

+ Giáo viên xây dựng đề kiểm tra ít chú ý tính phân hóa trình độ học sinh. Hoặc quá thấp, hoặc quá cao, vì không có ma trận đề nên rất nhiều câu hỏi cùng cấp độ xuất hiện cùng lúc trong một đề kiểm tra.

+ Kỹ thuật và các bước ra đề kiểm tra không được chú ý đúng mức đặc biệt là công việc xây dựng ma trận đề, đáp án, biểu điểm và bước thử lại trước khi cho học sinh thực hiện.

Thứ hai, giáo án trả bài kiểm tra chủ yếu là ghi lại dàn bài (với các luận điểm, các ý), … thống kê điểm, nhận xét một số ưu khuyết điểm của học sinh. Mục đích của việc trả bài chủ yếu là để “có điểm” chứ không phải để học sinh nhận biết được ưu khuyết điểm của mình mà điều chỉnh kế hoạch học tập, …

1.3. Nguyên nhân của vấn đề

Đối với những giáo viên giảng dạy lâu năm thường hay chủ quan dựa vào kinh nghiệm và cứ theo “bổn cũ soạn lại”, ra đề theo “ngẫu hứng” cho học sinh thực hiện, chủ yếu để lấy điểm là chính. Thích cụ thể, công thức, nhất diện hơn là mở rộng, sáng tạo, nhìn hình tượng một cách đa chiều, …

Đối với một số ít những giáo viên mới vào nghề do những nguyên nhân chủ quan, khách quan họ không thực hiện được ma trận đề, kỹ năng biên soạn đề kiểm tra cũng còn những hạn chế. Một số ngại khó, thiếu tận tâm, nhiệt tình. Tìm hiểu rộng hơn chúng tôi được biết trong quá trình họ học nghề ở trường các sư phạm phần kiến thức ra đề (đặc biệt là kỹ năng thực hành) cũng chưa được chú trọng đúng mức. Khi đứng lớp, nghề dạy nghề là chính. Họ học được chủ yếu là từ đồng nghiệp, nếu ảnh hưởng từ những đối tượng không tích cực đổi mới trong việc kiểm tra đánh giá thì hiệu ứng dây chuyền … kéo theo không phải nhỏ!

1.4. Những hậu quả tiêu cực

Điều tất yếu của việc soạn giáo án ra đề và giáo án trả bài kiểm tra một cách qua loa (thậm chí có giáo viên không soạn những giáo án này) việc làm ấy là vi phạm quy chế chuyên môn, sẽ bị xử lý theo những quy định hiện hành.

Chính từ những đề ngẫu hứng và chủ quan, nên nhiều khi chính ngay “tác giả” cũng không thể giải quyết được trong một thời lượng hạn định, và lẽ tất nhiên học sinh có tài thánh cũng … bó tay! Từ đó dẫn đến việc HS sợ giờ kiểm tra, mất dần niềm tin vào bộ môn, vào cá nhân giáo viên. Hiệu quả giáo dục tất nhiên sẽ rất bi quan, tiêu cực. Chất lượng giáo dục của toàn trường ảnh hưởng không nhỏ.

            2. Một số kỹ thuật xây dựng đề kiểm tra – đề thi cho môn Ngữ Văn bậc THPT

            2.1. Cở sở pháp lý, khoa học

            Một là, về nguyên tắc, pháp lý: Chuẩn kiến thức, kĩ năng của các môn học THPT đã được ghi rõ trong Chương trình giáo dục phổ thông của từng bộ môn ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Việc dạy học, trong đó có kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập của học sinh đều phải căn cứ vào chuẩn này. Khi xác định chuẩn để kiểm tra chất lượng học tập môn học cần phải chú ý tới một số vấn đề sau :

            - Đảm bảo cụ thể, rõ ràng, tránh quy định một cách chung chung.

            - Đảm bảo tính khả thi, học sinh có thể đạt được trong sự ràng buộc của một hệ điều kiện cụ thể, thực tế.

            - Thể hiện được đầy đủ các nội dung mà mục tiêu môn học đề ra, bao gồm cả các nội dung về kiến thức, kĩ năng và thái độ cần đạt được sau khi học xong một phần, một chủ đề hay cả một năm học.

            - Quy định rõ mức tối thiểu cần phải đạt được đối với từng nội dung đề ra.

            Chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học là sự cụ thể hoá của mục tiêu môn học. Khi tiến hành kiểm tra, đánh giá, xuất phát từ chuẩn để thiết kế thành các tiêu chí nhằm kiểm tra được cả về số lượng (các chủ đề, các lĩnh vực kiến thức,...) và cả về chất lượng (mức độ kiểm tra trí nhớ; khả năng tư duy linh hoạt, sáng tạo; khả năng vận dụng vào các tình huống thực tiễn,..). Việc xác định các tiêu chí cho một đề kiểm tra cần lưu ý đến việc đảm bảo một số yếu tố :

            Thứ nhất, tính toàn diện : nội dung của từng môn học phải được kiểm tra đầy đủ và thích hợp. Nếu việc kiểm tra chỉ tập trung vào một số nội dung thường được cho là trọng tâm, bỏ qua nhiều nội dung khác, thì kết quả kiểm tra không phản ánh đúng chất lượng học tập của học sinh. Xuất phát từ mục tiêu của bài học, môn học, việc kiểm tra cần đảm bảo thể hiện được những yêu cầu cụ thể cả về kiến thức kĩ năng mà học sinh cần phải có sau khi học.

            Thứ hai, tính phân hoá : các tiêu chí của một đề kiểm tra phải phân loại được học sinh theo các nội dung cần kiểm tra ở những mức độ cần đạt, bao gồm lĩnh hội được kiến thức ở nhiều mức độ khác nhau (biết, hiểu, vận dụng,..), thành thạo các kĩ năng cơ bản...

            Hai là, về khoa học: Hiện có hai thang nhận thức được ứng dụng cho việc xác định cấp độ tư duy của môn Ngữ Văn là thang nhận thức Bloom và thang nhận thức Neko. Tựu trung có thể đề cập đến các cấp độ nhận thức như sau:

            Mức độ nhận biết:Đó là những câu hỏi yêu cầu về kiến thức đạt ở mức độ nhận biết hoặc câu hỏi yêu cầu về kỹ năng đạt ở mức độ bắt chước làm được một việc đã học, có thái độ tiếp nhận. HS xếp loạihọclực yếu dễ đạt được điểm tối đa trong phần này.

            Nội dung thể hiện ở việc quan sát và nhớ lại thông tin, nhận biết được thời gian, địa điểm và sự kiện, nhận biết được các ý chính, nắm được chủ đề nội dung.

            Động từ mô tả yêu cầu cần đạt ở cấp độ 1 có thể quy về nhóm động từ: Nói lại được; Chỉ lại được; Kể lại được; Liệt kê được, …

            Mức độ thông hiểu: Đó là những câu hỏi yêu cầu về kiến thức đạt ở mức độ thông hiểu hoặc câu hỏi yêu cầu về kỹ năng đạt được ở mức độ làm được chính xác một việc đã học, có thái độ đúng mực. HS xếp loại học lực trung bình dễ đạt được điểm tối đa trong phần này.

            Nội dung thể hiện ở việc thông hiểu thông tin, nắm bắt được ý nghĩa, chuyển tải kiến thức từ dạng này sang dạng khác, diễn giải các dữ liệu, so sánh, đối chiếu tương phản, sắp xếp thứ tự, sắp xếp theo nhóm, suy diễn các nguyên nhân, dự đoán các hệ quả.

            Động từ mô tả yêu cầu cần đạt ở cấp độ 2 có thể quy về nhóm động từ: Diễn giải được; So sánh được; Phân biệt được; Tóm tắt được.

            Mức độ vận dụng thấp: Đó là những câu hỏi yêu cầu về kiến thức đạt ở mức độ vận dụng cơ bản, những câu hỏi yêu cầu giải quyết vấn đề bằng những kiến thức, kỹ năng đã học đòi hỏi đến sự tư duy lôgic, phê phán, phân tích, tổng hợp, có thái độ tin tưởng. HS xếp loại học lực khá dễ đạt được điểm tối đa trong phần này.

            Nội dung thể hiện ở việc sử dụng thông tin, vận dụng các phương pháp, khái niệm và lý thuyết đã học trong những tình huống khác, giải quyết vấn đề bằng những kỹ năng hoặc kiến thức đã học.

            Động từ mô tả yêu cầu cần đạt ở cấp độ 3 có thể quy về nhóm động từ: giải thích được, chứng minh được, …

            Mức vận dụng cao: Đó là những câu hỏi yêu cầu giải quyết vấn đề bằng những kiến thức, kỹ năng đã học và vốn hiểu biết của bản thân HS đòi hỏi đến sự tư duy lôgic, phê phán, phân tích, tổng hợp và có dấu hiệu của sự sáng tạo, có thái độ tin tưởng. HS xếp loại học lực giỏi dễ đạt được điểm tối đa trong phần này.

            Nội dung thể hiện ở việc phân tích nhận ra các xu hướng, cấu trúc, những ẩn ý, các bộ phận cấu thành, thể hiện ở việc sử dụng những gì đã học để tạo ra nhữg cái mới, khái quát hóa từ các dữ kiện đã biết, liên hệ những điều đã học từ nhiều lĩnh vực khác nhau, dự đoán, rút ra các kết luận, thể hiện ở việc so sánh và phân biệt các kiến thức đã học, đánh giá giá trị của các học thuyết, các luận điểm, đưa ra quan điểm lựa chọn trên cơ sở lập luận hợp lý, xác minh giá trị của chứng cứ, nhận ra tính chủ quan, có dấu hiệu của sự sáng tạo.

            Động từ mô tả yêu cầu cần đạt ở cấp độ 4 có thể quy về nhóm động từ: phân tích được, so sánh được, bình luậnđược; Liên hệ được, ...

            Chú ý:

            Những câu hỏi liên quan đến các kiến thức về lý thuyết thường ở cấp độ 1, cấp độ 2.Với đặc trưng của bộ môn Ngữ Văn, việc áp dụng hình thức TNKQ ở hai cấp độ này là hợp lý. Nếu chúng ta sử dụng đến cấp độ vận dụng không khéo sẽ là áp đặt cách hiểu, cách cảm. Tính khách quan không còn mà thay vào đó là cảm thụ chủ quan của người ra đề.

            Cấp độ vận dụng dành cho hình thức kiểm tra tự luận sẽ hợp lý hơn.

            2.2. Những bước tiến hành xây dựng đề kiểm tra, đề thi cho môn Ngữ văn bậc THPT

            Để ra được một đề kiểm tra đạt yêu cầu cần đảm bảo được quy trình tối thiểu gồm 5 bước sau đây:

            Bước 1:Xác định mục tiêu

            Đối với mục tiêu chung

            Đề kiểm tra là phương tiện đánh giá kết quả học tập sau khi học xong một bài, một chương, một học kì, hay toàn bộ chương trình một lớp,.....

            Mục đích của đề dùng để kiểm tra 15 phút, hay kiểm tra cuối kỳ, thi cuối năm, dùng để chọn lọc học sinh giỏi hay học sinh yếu kém. Liên quan đến điều này là số lượng câu hỏi, mức độ khó dễ của câu hỏi, phạm vi đề cập của câu hỏi.

            Đối với mục tiêu cụ thể trong từng đề kiểm tra

            - Về kiến thức: GV phải căn cứ vào hệ thống các chuẩn kiến thức, kỹ năng được qui định trong chương trình GDPT của môn học để xác định qua bài kiểm tra học sinh sẽ tiếp nhận được lượng kiến thức cụ thể nào? (Xác định cấp độ nhận thức một cách cụ thể như đã nêu phần trên)

            - Về kỹ năng: GV tự hình thành và giải quyết câu hỏi: Qua bài kiểm tra đánh giá kỹ năng gì ở học sinh? (Chú ý đến các đối tượng từ yếu – trung bình và khá giỏi) 

            - Về thái độ, tình cảm bộ môn: Qua bài kiểm tra học sinh sẽ có những thái độ, tình cảm đối với khoa học và xã hội?

            Bước 2: Xây dựng nội dung ma trận cho đề kiểm tra

            - Người ra đề căn cứ vào sự mô tả yêu cầu nội dung cần kiểm tra theo chuẩn kiến thức, kỹ năng trong phạm vi cần kiểm tra trong chương trình GDPT ở bước 1 để đưa vào ma trận.

            - Căn cứ vào mục tiêu kiểm tra, đối tượng HS và tỉ lệ lượng kiến thức, kỹ năng ở các cấp độ để quyết định điểm số và thời gian kiểm tra cho mỗi cấp độ sao cho đảm bảo phân hóa được các đối tượng HS trong quá trình đánh giá.

            - Căn cứ vào điểm số, thời gian kiểm tra để quyết định số lượng chuẩn KTKN cần kiểm tra cho mỗi cấp độ. Số lượng chuẩn KTKN và thời gian phụ thuộc vào đối tượng HS và chất lượng câuhỏi.

            Mỗi một phương án kiểm tra (chẳng hạn như tự luận, trắc nghiệm khách quan, hay phối hợp tự luận với trắc nghiệm khách quan) thì xây dựng được một khung ma trận đề kiểm tra.

Bảng ma trận đề kiểm tra định kỳ tại lớp dành cho HS cơ bản

 

Hình thức KT

Dữ liệu KT

Trọng tâm

Cấp độ nhận thức

Nhận biết

 

Thông hiểu

 

Vận dụng thấp

Vận dụng cao

TNKQ

Bài 1

Theo Chuẩn KT

1 = 0.25 đ

1 = 0.25 đ

/

/

Bài 2

Nt

1 = 0.25 đ

1 = 0.25 đ

/

/

Bài 3

Nt

1 = 0.25 đ

1 = 0.25 đ

/

/

Bài n

Nt

1 = 0.25 đ

1 = 0.25 đ

/

/

Tự luận

NLXH

Vấn đề 1

 

/

/

1 câu= 3 đ

/

Vấn đề 2

 

/

/

/

NLVH

Bài 1

Nt

 

 

1 câu =5 đ

 

Bài 2

Nt

 

 

 

Bài 3

Nt

 

 

 

Bài n

Nt

 

 

 

            Bảng ma trận đề kiểm tra thường xuyên

 

Hình thức KT

Dữ liệu KT

Trọng tâm

Cấp độ nhận thức

Nhận biết

 

Thông hiểu

 

Vận dụng thấp

Vận dụng cao

TNKQ

Bài 1

Theo Chuẩn KT

2 = 0.5 đ

2 = 0.5 đ

/

/

Bài 2

Nt

2 = 0.5 đ

2 = 0.5 đ

/

/

Bài 3

Nt

2 = 0.5 đ

2 = 0.5 đ

/

/

Bài n

Nt

2 = 0.5 đ

2 = 0.5 đ

/

/

Tự luận

NLVH

Bài 1

Nt

/

/

1 câu = 6 đ

/

Bài 2

Nt

/

/

/

/

Bài 3

Nt

/

/

/

/

Bài n

Nt

/

/

/

/

            Bảng ma trận đề thi học kỳ dành cho HS cơ bản

 

Hình thức KT

Dữ liệu KT

Trọng tâm

Cấp độ nhận thức

Nhận biết

 

Thông hiểu

 

Vận dụng thấp

Vận dụng cao

TNKQ

Bài 1

Theo Chuẩn KT

1 = 0.25 đ

1 = 0.25 đ

/

/

Bài 2

Nt

1 = 0.25 đ

1 = 0.25 đ

/

/

Bài 3

Nt

1 = 0.25 đ

1 = 0.25 đ

/

/

Bài n

Nt

1 = 0.25 đ

1 = 0.25 đ

/

/

Tự luân

NLXH

Vấn đề 1

 

/

/

/

1 câu= 3 đ

 

Vấn đề 2

 

/

/

/

NLVH

Bài 1

Nt

/

/

1 câu = 5 đ

/

Bài 2

Nt

/

/

/

Bài 3

Nt

/

/

/

Bài n

Nt

/

/

/

           


 

Bảng ma trận đề thi tuyển HS giỏi, thi tuyển sinh đầu vào

 

Hình thức KT

Dữ liệu KT

Trọng tâm

Cấp độ nhận thức

Nhận biết

 

Thông hiểu

 

Vận dụng thấp

Vận dụng cao

Tự luân

NLXH

Vấn đề 1

 

/

/

1 câu = 3 đ

/

Vấn đề 2

 

/

/

/

/

NLVH

Bài 1

Nt

/

1 câu = 2 đ

/

1 câu = 5 đ

Bài 2

Nt

/

/

Bài 3

Nt

/

/

Bài n

Nt

/

/

Bảng ma trận đề dành cho học sinh thi lại

 

Hình thức KT

Dữ liệu KT

Trọng tâm

Cấp độ nhận thức

Nhận biết

 

Thông hiểu

 

Vận dụng thấp

Vận dụng cao

TNKQ

Bài 1

Theo Chuẩn KT

2 = 0.5 đ

2 = 0.5 đ

/

/

Bài 2

Nt

2 = 0.5 đ

2 = 0.5 đ

/

/

Bài 3

Nt

2 = 0.5 đ

/

/

/

Bài n

Nt

2 = 0.5 đ

/

/

/

Tự luân

NLXH

Vấn đề 1

 

/

1 câu = 3 đ

 

/

/

Vấn đề 2

 

/

/

/

NLVH

Bài 1

Nt

/

/

1 câu = 4 đ

/

Bài 2

Nt

/

/

/

Bài 3

Nt

/

/

/

Bài n

Nt

/

/

/

            Bảng ma trận đề kiểm tra định kỳ HS làm ở nhà

 

Hình thức KT

Dữ liệu KT

Trọng tâm

Cấp độ nhận thức

Nhận biết

 

Thông hiểu

 

Vận dụng thấp

Vận dụng cao

Tự luân

NLXH

Vấn đề 1

 

/

/

1 câu= 3 đ

/

Vấn đề 2

 

/

/

/

NLVH

Bài 1

Nt

/

/

1 câu= 2 đ

1 câu= 5đ (*)

Bài 2

Nt

/

/

Bài 3

Nt

/

/

Bài n

Nt

/

/

(*) : tùy theo từng kiểu bài có thể cho HS câu hỏi phần vận dụng cao với kiểu bài NLXH.

            Bước 3: Viết câu hỏi

            Thứ nhất, kỹ thuật viết câu hỏi TNKQ

            Hiện nay, TNKQ hình thức nhiều lựa chọn (thường là 4 lựa chọn) được xem là thích hợp hơn cả cho TNKQ môn Ngữ văn

            *Những lưu ý chung:

            Về hình thức:

            - Nên trình bày các câu dẫn và các sự lựa chọn theo hàng dọc

            - Bảo đảm để phần dẫn và phần lựa chọn khi ghép lại phải thành một cấu trúc đúng ngữ pháp và chính tả.

            - Trong bài trắc nghiệm, không được để cho câu hỏi này trở thành đáp án, hoặc gợi ý trả lời cho câu hỏi khác.

            - Các câu hỏi phủ định, hoặc khẳng định nên được sắp xếp xen kẽ nhau để tăng tính khách quan.

            - Ngoài câu hỏi kiểm tra kiến thức, cần phải có câu hỏi đánh giá kỹ năng đọc tác phẩm, thực hành tiếng Việt, thao tác làm văn cho HS.

            - Phương án gây nhiễu được biên soạn sao cho không những không đúng mà còn phải có vẻ hợp lý, có sức hút đối với những học sinh không hiểu kỹ bài. Nếu không có hoặc có quá ít HS chọn phương án nhiễu, người ra đề nên kiểm tra lại các phương án gây “nhiễu” của mình.

Từ thực tế, chúng tôi đưa ra nguyên tắc 3 không để xây dựng câu hỏi TNKQ sau đây:

            1- Những cái không trong kiến thức, kỹ năng

            1.1. Không có giá trị kiểm tra kiến thức

            Ví dụ1: Nhân vật Tràng thường đi làm về vào lúc nào? (A.Lúc gà lên chuồng/B.Lúc nhá nhem tối/C.Lúc chạng vạng/D.Lúc đầu hôm)

            Ví dụ 2: Bài thơ “Tỏ lòng” (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão được sáng tác vào đời nào? (A. Đường/ B. Tống/ C. Nguyên/ D. Minh)

            Nguyên nhân bài thơ hay có cảm hứng từ hào khí Đông A của đời Trần, không thể lấy đáp án từ các triều đại của Trung Quốc, không có tác dụng giáo dục cho học sinh.

            1.2 - Không áp đặt cách cảm thụ của người ra đề

            Ví dụ: Vì sao tác giả viết: Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc? (A.Vì có nhiều chiến sĩ bị sốt rét rụng hết tóc/ B.Vì có nhiều chiến sĩ cạo đầu trọc/ C.Vì muốn diễn tả vẻ đẹp oai hùng của đoàn quân)

            Câu này có nhiều lỗi: không đủ 4 phương án trả lời; vừa mang tính chủ quan áp đặt của người ra đề đối với khả năng cảm thụ của HS, và thực ra trong 3 phương án trả lời nêu ra đã có … 2 phương án đúng!

            1.3 - Không hỏi ý kiến riêng của cá nhân HS

            Ví dụ: Theo em vì sao truyện Hai đứa trẻ của Thạch Lam hấp dẫn người đọc? (A.Vì là truyện ngắn này không có cốt truyện/ B.Vì bút pháp hiện thực kết hợp với lãng mạn của Thạch Lam/ C.Vì không gian im ắng vắng lặng nơi phố huyện nghèo/ D.Vì ngôn ngữ truyện của Thạch Lam giàu chất thơ).

            GV nêu “theo em” thì HS trả lời đáp án nào cũng đúng.

            2. Những cái không trong câu lệnh

            2.1. Không chuẩn trong câu lệnh

            Ví dụ: Nguyễn Trãi sống vào thời nào? (A. Lý/B.Trần/C. Hậu Lê/D.Nguyễn.)

            Câu hỏi này không phân biệt bởi từ “sống”. Nguyễn Trãi sinh vào thời Trần (1380) nhưng sự nghiệp văn học lẫn công danh thì gắn với nhà Hậu Lê

            2.2. Không để câu lệnh trở thành đáp án của câu khác

            Ví dụ :

Câu 1 : An Dương Vương, Mỵ Châu Trọng Thủy thuộc thể loại nào của văn học dân gian nào ? (A. Thần thoại/ B. Cô tích/ C. Truyền thuyết/ D. Sử thi)

Câu 4 : Trong truyền thuyết An Dương Vương, Mỵ Châu Trọng Thủy không có chi tiết nào sau đây ? (A. Rùa Vàng giúp An Dương Vương xây Loa thành/ B. Rùa Vàng trao vuốt giúp An Dương Vương chế nỏ thần/ C. Rùa Vàng đòi lại gươm thần/ D. Rùa Vàng đưa An Dương Vương xuống biển sâu)

            3. Những cái không trong đáp án

            3.1. Đáp án không được đa trị

            Ví dụ: Thu điếu (Câu cá mùa thu) được Nguyễn Khuyến viết bằng chữ gì? (A.Nôm/B.Hán/C.Quốc ngữ/D.Hán Việt)

            Những câu dạng này rất khó thuyết phục HS, vì ý của người ra đề là Thu điếu được Nguyễn Khuyến viết bằng chữ Nôm, song thực tế trên văn bản SGK bài thơ viết bằng chữ Quốc ngữ.

            3.2. Các phương án trả lời không cân xứng

            Tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du được viết theo thể loại nào? (A. Tiểu thuyết lịch sử viết theo lối chương hồi/ B. hồi ký/ C. truyện thơ/ D. tập thơ)

            3.3. Không nên dùng tất cả đúng và tất cả sai

            Ví dụ: Điểm khác biệt giữa truyện Lục Vân Tiên và Truyện Kiều là gì? (A. Thể thơ lục bát/ B.   Tiểu thuyết chương hồi/ C. Ghi chép chân thực lịch sử/ D. Cả a, b, và c). Nguyên nhân: Học sinh đa phần sẽ chọn đáp án d.

            Bước 4: Xây dựng đáp án và biểu điểm cho đề kiểm tra

            - Căn cứ vào đề kiểm tra và ma trận đề kiểm tra để xây dựng đáp án và biểu điểm. Tùy theo dạng đề và loại hình mà quy định điểm cho mỗi câu hỏi. Đối với câu tự luận, căn cứ vào chuẩn kiến thức, kỹ năng cần kiểm tra để chia thành các ý cho thích hợp.

            - Thang điểm là 10 điểm cho toàn bài, mỗi ý hoặc câu hỏi có thể có giá trị điểm nhỏ nhất là 0,25 điểm. Có thể có thang điểm khác nhưng khi chấm xong đều phải qui đổi ra thang 10 điểm.

            - Cần chú ý đến nguyên tắc làm tròn số khi cho điểm toàn bài. Thang đánh giá gồm 11 bậc: 0, 1, 2, …, 10 điểm (có thể có điểm thập phân được làm tròn tới một chữ số sau dấu phẩy) theo quy chế của Bộ GDĐT (QĐ 40/2006/BGDĐT ngày 05/10/2006).

            Bước 5: Thẩm định và niêm phong đề kiểm tra, đáp án

            - Tùy theo tính chất và mục tiêu kiểm tra mà có tổ chức đọc rà soát hoặc thẩm định đề kiểm tra,đáp án.

            - Hoàn thiện, niêm phong và bảo quản đề kiểm tra, đáp án.

Việc đọc phản biện, thẩm định, niêm phong, bảo quản đề kiểm tra phải tuân theo các qui định hiện hành về thi cử.

            Thiếu phần này nhiều khi ngay cả người ra đề cũng không thực hiện được đề kiểm tra trong thời lượng đã định, như vậy sẽ thiếu khoa học, không thuyết phục.

            Thứ hai, đối với đề tự luận

            Đối với dạng đề truyền thống. Thường gồm có 3 phần:

Phần yêu cầu (nêu tư liệu dẫn chứng, kỹ năng nghị luận, …)/ Phần nội dung, …

Ví dụ: Phân tích hình tượng ông lái đò ở tác phẩm Người lái đò sông Đà để làm rõ cách miêu tả nhân vật của Nguyễn Tuân (trích đề thi Đại học khối C, 2003)

Hoặc: Anh chị hãy phân tích giá trị nhân đạo sâu sắc trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân (Đề thi Đại học khối D, 2002)

            Đối với dạng đề mở, đề tự do

- Tóm tắt một văn bản đã học.

- Nêu hệ thống nhân vật, đề tài, chủ đề của một tác phẩm đã học.

- Thuyết minh về một tác giả, một tác phẩm một thể loại văn học.

- Thuyết minh về một hiện tượng sự vật (sử dụng miêu tả và các biện pháp nghệ thuật).

- Viết một văn bản hành chính – công vụ.

- Sắp xếp các sự việc trong tác phẩm theo đúng trật tự.

- Thống kê tên các tác phẩm viết cùng một đề tài, một giai đoạn.

- Phân tích cảm thụ một tác phẩm (hoặc một phần của tác phẩm) văn học.

- Phát biểu cảm nghĩ về một nhân vật hoặc một tác phẩm văn học.

- Phân tích suy nghĩ, nghị luận về một nhân vật trong tác phẩm văn học.

- Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lý.

- Nghị luận về một sự việc, một hiện tượng có thật trong đời sống.

- Kể về một câu chuyện có thật trong đời sống hoặc theo tưởng tượng, sáng tạo của cá nhân.

- Suy nghĩ về ý nghĩa của một câu chuyện.

- Cho một câu chủ đề (câu chốt) yêu cầu phát triển thành một đoạn văn có độ dài giới hạn theo một trong các cách diễn dịch, quy nạp hoặc tổng - phân - hợp.

- Cho một đoạn văn bản, yêu cầu học sinh tìm câu chủ đề và chỉ ra cách phát triển của đoạn văn đó.

- Phân tích và bình luận ý nghĩa một nhan đề của một tác phẩm nào đó.

- So sánh hai tác phẩm, hai nhân vật hoặc hai tình tiết hai chi tiết nào đó.

- Nhận diện và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ nào đó trong một đoạn văn, một câu thơ cụ thể.

- Viết mở bài hoặc kết luận cho một đề văn cụ thể.

- Viết thêm phần kết cho một ý thơ, hoặc một tác phẩm văn xuôi…

Ví dụ cụ thể

- Cảm xúc của anh, chị khi mùa thu đến.

- Cảm xúc của anh chị, khi biết tin cơn bão số 1 tháng 6 – 2006 gây thiệt hại lớn về người cho đồng bào miền Trung nước ta.

- Cô Tấm tự kể về mình.

- Những suy nghĩ của anh chị về những em bé lang thang không nhà mà anh chị đã gặp.

- Về một bài ca dao mà anh, chị yêu thích.

- Cảm nhận của anh, chị về sách Ngữ văn 10, hiện nay mà anh chị đang học.

- Anh chị hãy giới thiệu về danh nhân Nguyễn Trãi.

- Xây dựng một văn bản để thuyết minh cho người nghe về một vấn đề mà anh, chị tự chọn.

- Hãy sưu tầm và kể lại bằng văn bản viết một truyện cổ tích ở gần nơi anh chị cư ngụ. 

Ví dụ đề thi Đại học khối C, 2010 như sau:

Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:

Gió theo lối gió, mây đường mây / Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay/ Thuyền ai đậu bến sông trăng đó/ Có chở trăng về kịp tối nay?(Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử, Ngữ văn 11, Tập hai, NXB Giáo dục, 2008, tr. 39)  

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,/ Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa. / Lòng quê dợn dợn vời con nước, / Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. (Tràng giang - Huy Cận, Ngữ văn 11, Tập hai, NXB Giáo dục, 2008, tr. 29)  

            2.3. Thực hành xây dựng giáo án ra đề kiểm tra

            2.3.1. Giáo án đề kiểm tra định kỳ tại lớp (bài viết số 3, lớp 11, chương trình cơ bản)

Giáo án ra để kiểm tra thi học kỳ 1. Thời lượng làm bài : 2 tiết. Học sinh lớp 11 cơ bản

1. Mục đích yêu cầu

1.1. Về kiến thức: Kiểm tra lại kiến thức đã học ở cả chương trình học kỳ 1 (theo Cấu trúc đề thi đã triển khai cho học sinh)

1.2. Về kỹ năng: Viết được bài văn nghị luận xã hội và nghị luận văn học.

1.3. Thái độ của HS đối với cuộc sống, xã hội: Bồi dưỡng lòng yêu thương, cảm nhận cái đẹp của thiên nhiên đất nước, cái đẹp từ ngôn từ tiếng Việt mang đến. Nâng cao năng lực chủ động, vận dụng sáng tạo, ứng xử trong cuộc sống, … 

2.3.2. Xây dựng ma trận đề

Ma trận đề thi học kỳ dành cho HS cơ bản

 

Hình thức KT

Dữ liệu KT

Trọng tâm

Cấp độ nhận thức

Nhận biết

 

Thông hiểu

 

Vận dụng thấp

Vận dụng cao

TNKQ

 

Theo Chuẩn KT

1 = 0.25 đ

1 = 0.25 đ

/

/

 

Nt

1 = 0.25 đ

1 = 0.25 đ

/

/

 

Nt

1 = 0.25 đ

1 = 0.25 đ

/

/

 

Nt

1 = 0.25 đ

1 = 0.25 đ

/

/

Tự luân

NLXH

Vấn đề 1

 

/

/

/

1 câu = 3 đ

 

Vấn đề 2

 

/

/

/

NLVH

Bài 1

Nt

/

/

1 câu = 5 đ

/

Bài 2

Nt

/

/

/

Bài 3

Nt

/

/

/

Bài n

Nt

/

/

/

2.3.3. Ra đề

ĐỀ THI HỌC KỲ 1. Môn Ngữ Văn lớp 11. Năm học 2010 – 2011.

Thời gian làm bài: 120  phút

A. TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN: Sau khi nhận đề thi, học sinh làm ngay phần này, thời gian: 10 phút, đọc và chọn đáp án đúng để đánh dấu vào bảng trắc nghiệm phía dưới.

1. Mỹ danh Đồ Chiểu chỉ công việc thường ngày của Nguyễn Đình Chiểu là một: (A. Thầy giáo/ B. Thầy thuốc/ C. Nhà Nho/ D. Nhà thơ)

2. Ông Hi Văn là ai? (A. Hồ Xuân Hương/ B. Nguyễn Du/ C. Nguyễn Công Trứ/ D. Cao Bá Quát)

3. Đôi lứa xứng đôi là tên gọi khác của tác phẩm nào? (A. Chí Phèo/ B. Số đỏ/ C. Chữ người tử tù/ D. Hai đứa trẻ)

4. Lão Hạc là tác phẩm của ai? (A. Ngô Tất Tố/ B. Nam Cao/ C. Vũ Trọng Phụng/ D. Nguyễn Công Hoan)

5. Bài ca ngất ngưởng được Nguyễn Công Trứ viết theo thể loại nào? (A. Hát nói/ B. Văn tế/ C. Thơ Đường luật/ D. Phú)

6. “Khi thủ khoa, khi tham tướng, khi tổng đốc Đông”, trích trong: (A. Tự tình - Hồ Xuân Hương/ B. Sa hành đoản ca – Cao Bá Quát/ C. Bài ca ngất ngưởng - Nguyễn Công Trứ/ D. Hầu trời - Tản Đà)

7. Bi kịch bị từ chối quyền làm người của Chí Phèo được bắt đầu từ: (A. khi Chí vừa mới lọt lòng/ B. khi ở tù về, đến nhà Bá Kiến/ C. khi bị Thị Nở từ chối tình yêu/ D. khi bị bà cô Thị Nở khinh rẻ)

8. Người đời gọi Trần Tế XươngTú Xương vì:  (A. Ông phải đi thi nhiều lần/ B. Ông đỗ học vị tú tài/ C. Có người vợ tảo tần/ D. Thơ ông hay châm biếm)

B. PHẦN TỰ LUẬN

Câu1 (3 điểm). Anh/ Chị hãy Viết bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của anh, chị về hiện tượng đối phó, quay cóp bài trong giờ kiểm tra ở học sinh trung học phổ thông hiện nay.

Câu 2 (5 điểm). Chọn một trong hai đề sau đây:

          Đề 1:Phân tích tâm trạng Hồ Xuân Hương qua bài thơ “ Tự Tình II”

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn.
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa, say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế, khuyết chưa tròn.

Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con.

Đề 2: Phân tích bi kịch của nhân vật Chí Phèo qua đoạn trích ở tác phẩm cùng tên của Nam Cao mà anh/ chị đã học.

2.3.4. Đáp án và biểu điểm

 

CÂU

1

2

3

4

5

6

7

8

  Đáp án

A

A

A

A

A

A

A

A

B

B

B

B

B

B

B

B

C

C

C

C

C

C

C

C

D

D

D

D

D

D

D

D

 

Đáp án phần TNKQ

 

 

 

 

Phần Tự luận

II. Đáp án và thang điểm

 

Đáp án

Điểm

I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (8,0 điểm)

 

Câu 2

(3,0 đ)

Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh, chị về hiện tượng đối phó, quay cóp bài trong giờ kiểm tra ở học sinh trung học phổ thông hiện nay

 

a. Yêu cầu về kĩ năng:

Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

 

b. Yêu cầu về kiến thức:

Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng lí lẽ và dẫn chứng phải hợp lí; cần làm rõ được các ý chính sau:

 

- Nêu được vấn đề cần nghị luận.

0,50

- Giải thích thế nào là hiện tượng đối phó, quay cóp trong giờ kiểm tra.

0,50

- Biểu hiện và tác hại của hiện tượng đối phó, quay cóp

0,75

+ Khẳng định: đối phó và quay cóp là thái độ học tập lệch lạc, không đúng đắn

+ Điều chỉnh thái độ và hành vi học tập của bản thân: chăm chú nghe giảng, chăm làm bài tập thực hành, học bài, tham khảo tài liệu, …

+ Kiên quyết chống lại những hành vi tiêu cực đó.

0,75

Kết thúc vấn đề:

-Kết lại nội dung vừa trình bày, nêuý nghĩa tầm quan trọng của đề tài đối với học sinh hiện nay.

-Thái độ học tập đúng đắn của bản thân.

0,50

 

Lưu ý:

- Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năng và kiến thức.

- Nếu thí sinh có những suy nghĩ riêng mà hợp lí thì vẫn được chấp nhận.

II. PHẦN RIÊNG - PHẦN TỰ CHỌN (5,0 điểm)

 

Câu 3.a

(5,0 đ)

 

Theo chương trình Chuẩn

Phân tích tâm trạng Hồ Xuân Hương qua bài thơ “ Tự Tình”

a. Yêu cầu về kĩ năng:

Biết cách làm bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt

lưu loát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp

b. Yêu cầu về kiến thức: 

Trên cơ sở những hiểu biết về nhà thơ Hồ Xuân Hương và bài thơ Tự tình, thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng cần làm rõ được các ý cơ bản sau:

- Nêu được vấn đề cần nghị luận. 

0,50

-Không gian và thời gian bộc lộ tâm trạng của nhân vật trữ tình…

0.75

-Tâm trạng của nhân vật trữ tình ý thức về số phận của mình…

0.75

-Thái độ phản kháng trước nghịch cảnh của số phận…

0.75

-Nỗi chua chát, ngán ngẫm trước hiện thực bi thảm của cuộc đời…

0.75

- Nghệ thuật: Thơ Nôm Đường luật, âm điệu sâu lắng, dạt dào; nghệ thuật ẩn dụ, đối lập, đảo ngữ, từ đồng âm, từ đa nghĩa, ...

 

- Đánh giá chung về giá trị của bài thơ. 

0,50

Lưu ý: Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năng và kiến thức.

 

Câu 3.b

(5,0 đ)

Theo chương trình Nâng cao

Phân tích bi kịch của nhân vật Chí Phèo qua đoạn trích ở tác phẩm cùng tên của Nam Cao mà anh/ chị đã học

a. Yêu cầu về kĩ năng:

Biết cách làm bài nghị luận về một nhân vật; biết cách phân tích một hình tượng nhân vật. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

b. Yêu cầu về kiến thức: 

Trên cơ sở những hiểu biết về nhà văn Nam Cao, truyện ngắn Chí Phèo, đặc biệt là nhân vật Chí Phèo, thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng cần làm rõ được các ý cơ bản sau:

- Nêu được vấn đề cần nghị luận.

0,50

- Bi kịch của Chí Phèo chính là bi kịch của người nông dân trước Cách mạng (+ Trước khi đi tù: Là đứa trẻ bất hạnh từ khi mới lọt lòng. Lớn lên sống lương thiện, hiền lành, có lòng tự trọng/ + Sau khi đi tù về: Chí Phèo biến thành con quỷ dữ: hình dạng, nhân cách/ +Khi gặp thị Nở: Chí Phèo khát khao lương thiện/ +Tuyệt vọng vì bị cự tuyệt quyền làm người)

1,50

- Giải quyết bi kịch. Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm

1,50

- Nghệ thuật: (+Xây dựng nhân vật điển hình/ +Khai thác chiều sâu tâm lí nhân vật/ + Giọng văn linh hoạt: chuyển từ tự sự lạnh lùng sang trữ tình tha thiết/ +Kết cấu tác phẩm, …)

1,00

- Đánh giá chung về nhân vật và tác phẩm. 

0,50

Lưu ý: Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năng và kiến

thức.

2.3.5. Kiểm tra lại và hoàn thành đề kiểm tra cho HS

Ví dụ thêm:

Đề thi Ngữ Văn chính thức kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2010 của Bộ GD-ĐT như sau:

I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm)

Nêu những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp văn học của nhà văn M. Sô-lô-khốp.

Câu 2. (3,0 điểm)

Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về lòng yêu thương con người của tuổi trẻ trong xã hội hiện nay.

II. PHẦN RIÊNG - PHẦN TỰ CHỌN(5,0 điểm) 

Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu 3.a hoặc câu 3.b)

Câu 3.a. Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)

Phân tích nhân vật Việt trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi  (phần trích trong Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục – 2008).

Câu 3.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm)

Phân tích đoạn thơ sau trong bài Sóng của Xuân Quỳnh:

Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể

 

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ  

(Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập một, tr.122 – 123, NXB Giáo dục – 2008)

Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Giám thị không giải thích gì thêm.

 

 

HƯỚNG DẪN CHẤM THI

(Bản Hướng dẫn chấm thi gồm 02 trang)

 

I. Hướng dẫn chung

- Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh, tránh cách chấm đếm ý cho điểm.

- Do đặc trưng của bộ môn Ngữ văn nên giám khảo cần chủ động, linh hoạt trong việc vận dụng đáp án và thang điểm; khuyến khích những bài viết có cảm xúc và sáng tạo.

- Việc chi tiết hoá điểm số của các ý (nếu có) phải đảm bảo không sai lệch với tổng điểm của mỗi ý và được thống nhất trong Hội đồng chấm thi.

- Sau khi cộng điểm toàn bài, làm tròn đến 0,5 (lẻ 0,25 làm tròn thành 0,5; lẻ 0,75 làm tròn thành 1,0 điểm).

II. Đáp án và thang điểm

 

Đáp án

Điểm

I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)

 

Câu 1

(2,0 đ)

Nêu những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp văn học của M. Sô-lô-khốp.

 

a) Cuộc đời:

 

- Mi-khai-in A-lếch-xan-đrô-vích Sô-lô-khốp (1905-1984) là nhà văn Nga lỗi lạc, đã được nhận giải thưởng Nô-ben về văn học.

0,25

- M. Sô-lô-khốp sinh trưởng tại vùng sông Đông. Ông tham gia cách mạng từ rất sớm. Trong chiến tranh chống phát xít, ông là phóng viên mặt trận.

0,75

b) Sự nghiệp:

 

- Tác phẩm tiêu biểu: Truyện sông Đông, Sông Đông êm đềm, Số phận con người,…

0,50

- Tác phẩm của M. Sô-lô-khốp thể hiện cách nhìn chân thực về cuộc sống và chiến tranh.

0,50

Lưu ý: Thí sinh có thể sắp xếp theo nhiều cách nhưng phải nêu đủ các ý trên, diễn đạt rõ ràng thì mới được điểm tối đa.

Câu 2

(3,0 đ)

Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ về lòng yêu thương con người của tuổi trẻ trong xã hội hiện nay.

 

a. Yêu cầu về kĩ năng:

Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

 

b. Yêu cầu về kiến thức:

Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng lí lẽ và dẫn chứng phải hợp lí; cần làm rõ được các ý chính sau:

 

- Nêu được vấn đề cần nghị luận.

0,50

- Lòng yêu thương là sự đồng cảm, chia sẻ, thấu hiểu,… là một trong những phẩm chất cao đẹp của con người.

0,50

- Lòng yêu thương có những biểu hiện: Cảm thương, quan tâm, giúp đỡ những người có cảnh ngộ bất hạnh, khó khăn trong cuộc sống; yêu mến và trân trọng những người có phẩm chất, tình cảm cao đẹp;…

0,75

 

- Ý nghĩa của lòng yêu thương: Tạo nên mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người; bồi đắp cho tâm hồn tuổi trẻ trong sáng, cao đẹp hơn;…

0,75

- Phê phán những biểu hiện vô cảm của tuổi trẻ trong xã hội hiện nay; cần sống

có lòng yêu thương con người.

0,50

 

Lưu ý:

- Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năng và kiến thức.

- Nếu thí sinh có những suy nghĩ riêng mà hợp lí thì vẫn được chấp nhận.

II. PHẦN RIÊNG - PHẦN TỰ CHỌN (5,0 điểm)

 

Câu 3.a

(5,0 đ)

 

Theo chương trình Chuẩn

Phân tích nhân vật Việt trong truyện ngắn Những đứa con trong gia  đình

của Nguyễn Thi.

a. Yêu cầu về kĩ năng:

Biết cách làm bài nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi; biết cách phân

tích một hình tượng nhân vật. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; không mắc lỗi

chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

b. Yêu cầu về kiến thức: 

Trên cơ sở những hiểu biết về nhà văn Nguyễn Thi và truyện ngắn Những đứa

con trong gia đình (chủ yếu phần trích trong Ngữ văn 12, Tập hai), thí sinh có

thể trình bày theo nhiều cách, nhưng cần làm rõ được các ý cơ bản sau:

- Nêu được vấn đề cần nghị luận. 

0,50

- Việt là một cậu con trai vô tư, tính tình “trẻ con”, ngây thơ, hiếu động. 

1,00

- Căm thù giặc sâu sắc, khao khát chiến đấu giết giặc, có tinh thần dũng cảm. 

1,00

- Giàu tình nghĩa với gia đình, rất mực thuỷ chung với quê hương và cách mạng. 

1,00

- Tác giả đã để cho Việt tự kể chuyện về mình bằng một ngôn ngữ, giọng điệu

riêng và qua đó nhân vật hiện lên cụ thể, sinh động.

1,00

 

- Đánh giá chung về nhân vật. 

0,50

Lưu ý: Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năng và kiến

thức.

 

Câu 3.b

(5,0 đ)

Theo chương trình Nâng cao

Phân tích đoạn thơ trong bài Sóng của Xuân Quỳnh.

a. Yêu cầu về kĩ năng:

Biết cách làm bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt

lưu loát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

b. Yêu cầu về kiến thức: 

Trên cơ sở những hiểu biết về nhà thơ Xuân Quỳnh và bài thơ Sóng, thí sinh có

thể trình bày theo nhiều cách, nhưng cần làm rõ được các ý cơ bản sau:

- Nêu được vấn đề cần nghị luận.

0,50

- Từ việc khám phá những trạng thái khác nhau của sóng, tác giả diễn tả các

cung bậc tình cảm của người phụ nữ đang yêu và thể hiện một quan niệm mới về tình yêu – yêu là tự nhận thức, là vươn tới cái cao rộng, lớn lao.

1,50

- Mượn quy luật muôn  đời của sóng, tác giả khẳng  định khát vọng tình yêu

thường trực trong trái tim tuổi trẻ.

1,50

- Nghệ thuật: Thể thơ năm chữ, âm điệu sâu lắng, dạt dào; nghệ thuật nhân hoá, ẩn dụ, đối lập,...

1,00

- Đánh giá chung về đoạn thơ. 

0,50

Lưu ý: Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năng và kiến

thức.

3. Giáo án trả bài kiểm tra

3.1. Chuẩn bị

- Chấm bài theo đáp án

- Thống kê điểm

- Nhận định kết quả bài làm của HS (đã làm được gì so với yêu cầu đặt ra; còn hạn chế phần nào? …)

3.2. Lên lớp

3.2.1. Viết lại đề; công bố đáp án; công bố tiêu chí cho điểm

3.2.2. Nhận định bài làm của HS

- Ưu điểm: ví dụ

- Khuyết điểm: ví dụ

3.2.3. Sửa lỗi cơ bản (nếu học sinh phạm nhiều lỗi, chọn một – hai lỗi phổ biến)

3.2.4. Trả bài, thu nhận thông tin phản hồi

3.2.5. Dặn dò

- Phát huy những HS làm bài tốt, nâng cao mở rộng (cho HS tự làm thêm ở nhà)

- Buộc HS yếu, kém thực hiện lại một công đoạn nào đó trong quá trình kiểm tra (GV có kế hoạch kiểm tra lại sau đó)

4. Kết luận

            Đây là hai dạng giáo án bắt buộc giáo viên phải thực hiện trong quá trình công tác. Nó không khó nhưng đòi hỏi giáo viên nhiệt tâm, kỳ công để thực hiện.

Muốn nâng cao chất lượng dạy và học theo chúng tôi có nhiều việc quan trọng cần làm mà việc xây dựng giáo án ra đề và giáo án trả bài kiểm tra là không thể không làm.

           

 

  

Tác giả bài viết: Ths Trần Minh Thương

Từ khóa: n/a
  • Show comment
  • -- Add comment
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn